Chương 1. SƠ LƯỢC CHỨC NĂNG CÁC BỘ PHẬN CỦA NHÀ DÂN DỤNG
A. Các bộ phận chủ yếu của nhà dân dụng :
Một ngôi nhà đều gồm nhiều bộ phận cấu tạo nên, mỗi bộ phận giữ một nhiệm vụ nhất định và có những yêu cầu nhất định. Tuy nhiên, dựa vào tính chất làm việc gần giống nhau của các bộ phận này, người ta gộp chúng thành hai nhóm chính. Nhóm bộ phận thứ nhất của nhà sẽ gánh lấy tất cả các loại tải trọng tác động lên nó để truyền xuống đất gọi là các kết cấu chị lực. Thuộc nhóm này có các kết cấu thẳng đứng chịu lực như : tường, cột, móng ... Và các kết cấu nằm ngang chịu lực như : dân, vì kèo, dầm, bản panen, tấm đan... Nhóm bộ phận thứ hai của nhà làm nhiệm vụ phân chia nhà thành từng không gian nhỏ, bên trong cũng như bên ngoài nhà gọi là các kết cấu bao che. Thuộc nhóm này có các tường trong nhà và ngoài nhà, các vách ngăn, sàn, mái, cửa sổ, cửa đi... Có một số bộ phận nhà như tường, sàn, mái vừa đồng thời làm hai nhiệm vụ chịu lực và bao che. Nếu kể các bộ phận cơ cấu của nhà từ dưới lên trên ta có thể gặp các bộ phận như sau.
1. Móng nhà : Là bộ phận kết cấu chịu lưc của nhà, nằm sâu bên dưới mặt đất, ở bên dưới tường hay cột làm nhiệm vụ truyền sức nặng và tải trọng của nhà xuống đất. Lớp đất mà tải trọng của nhà tuyền xuống gọi là nền . Nếu nhà có tầng hầm thì tường móng đồng thời là tường tầng hầm.
2. Trụ và cột (Cột kiến trúc và cột kết cấu) : Thông thường là kết cấu chịu lực. Chúng tựa trực tiếp lên móng. Trụ, cột là các gối tựa dùng ở những nơi đòi hỏi truyền trực tiếp tải trọng thẳng đứng xuống móng.
3. Đà kiềng, giằng móng : Đà kiềng (giằng cột) là cấu kiện nối liền các cột với nhau, ở vị trí gần chân cột, có cao độ cao hơn đài móng (hay đế móng). Đà kiềng thường được dùng để đỡ tường xây. Giằng móng : Là bộ phận được gối lên móng nên về hình dáng và kích thước đều phụ thuộc vào khoảng cách đối với cột. Giằng móng hoặc dầm móng là một bộ phận đóng vai trò rất quan trọng trong công trình và không thể nào vắng mặt, nếu không sự liên kết giữa các móng không thể nào đạt mức độ hoàn hảo nhất. Bộ phận này thường có kết cấu theo phương ngang của ngôi nhà, tuy nhiên theo từng vị trí cột trong công trình mà chúng sẽ được bố trí nằm ở giữa, trong hay mặt ngoài của cột.
4. Tường : Là bộ phận cấu tạo chính tạo ra không gian trên mặt đất cho nhà. Nhờ có tường mà ta phân biệt được không gian trong và ngoài nhà, giữa phòng này và phòng khác. Đôi khi tường còn làm bộ phận chịu lực, đỡ sàn, mái truyền xuống móng. Tường có thể bằng đất, gỗ, gạch, bê tông, bê tông cốt thép hay các loại vật liệu tổng hợp mới. Theo chức năng và vị trí của nó người ta phân ra tường trong hoặc tường ngoài, tường chịu lực và tường không chịu lực. Tường chịu lực nếu là tường chu vi thì gọi là tường ngoài chịu lực, các tường chịu lực khác là tường trong chịu lực. Các tường không chịu một tải trọng khác ngoài trọng lượng bản thân nó gọi là tường tự mang. Ta còn gặp một loại tường nhẹ khác không mang lực thường tựa lên hoặc treo vào một kết cấu chịu lực khác như dầm cột gọi là tường treo. Vách ngăn giữa các phòng cũng là một loại tường treo vì nó không mang lực, tựa lên sàn nên mỏng nhẹ. Thuộc về tường còn có các bộ phận sau : Bệ tường, Giằng tường, lanh tô, ô văng, seno, mái đua, tường chắn mái, tương bổ trụ, nấc hay gờ tường, hốc tường...
5. Bệ tường : Là một phần tường ngoài nằm ở chân tường sát đất giống như một vành đai phân biệt với các tường khác ở chỗ nó được làm hơi nhô ra hay hơi tụt vào một ít. Bệ tường thường xuyên trực tiếp chịu ảnh hưởng của độ ẩm, nước ngầm, lực va chạm, nước mưa cho nên thường được cấu tạo bằng vật liệu kiên cố, hoặc được ốp phủ bằng vật liệu cứng. Bệ tường có tác dụng làm cho ngôi nhà có vẻ vững vàng hay nhẹ nhõm. 6. Giằng tường : Là một hệ thống đai bê tông dày không nhỏ hơn 7cm nằm lẩn trong các tường chịu lực chính và tường chu vi ở độ cao sát bên dưới sàn hay ngang mép trên cửa sổ, cửa đi. Giằng tường hay gặp trong nhà gạch xây hay nhà Block làm nhiệm vụ liên kết các loại tường lại thành một hệ kết cấu không gian đảm bảo độ ổn định của bản thân tường và độ cứng chung của nhà.
7. Lanh tô : Là bộ phận dầm tường bằng gạch, bê tông cốt thép, đôi khi làm bằng gỗ hay thép định hình dùng để đỡ khối tường nằm trên cửa sổ, cửa đi, tạo nên những lỗ cửa trên mặt tường.
8. Ô văng : Là một tấm mái che bằng bê tông cốt thép nằm trên các cửa sổ, cửa đi ở các nhà vùng nhiệt đới dùng để che nắng, che mưa cho phòng. Để tiết kiệm vật liệu, người ta có thể kết hợp giằng tường, ô văng, lanh tô với nhau.
9. Mái đua: Là phần gờ tường nhô ra khỏi mặt tường chu vi ở phía trên cùng của nhà để tạo thành các gờ hắt nước, che cho tường khỏi bị nước mưa từ mái chảy xuống theo mặt tường làm ẩm móc tường. Cũng như bệ tường, mái đua cũng có tác dụng mỹ quan kiến trúc tạo lên một diềm mái, làm phần chuyển tiếp giữa mái và tường, tạo cho mặt nhà đỡ khô khan. Trong các mái bằng, mái đua có thể biến thành seno, tức là một máng nước bằng bê tông cốt thép (BTCT) nhô ra phía ngoài có hình dáng như một mái che ( ô văng)
10. Tường chắn mái : Là tường xây cao hơn mặt mái để che sống mái và bảo vệ cho người đi lại trên mái.
11. Tường bổ trụ
Là các tường mỏng yếu được gia tăng thêm bằng cách bổ trụ, tức là xây những trụ lẩn một phần trong chiều dày tường. Phần trụ nổi ra ngoài tường gọi là phần bổ trụ. Cũng là những bổ trụ chỉ để phân chia mặt nhà, vì mỹ quan kiến trúc mà thôi.
12. Sàn Là bộ phận kết cấu chia không gian nhà thành các tầng. Nó làm nhiệm vụ vừa bao che vừa mang lực. Ngoài trọng lượng bản thân, sàn còn phải gách đỡ một số hoạt tải khác như trọng lượng người, máy móc, thiết bị, đồ đạc bên trên. Sàn còn đóng vai trò khá lớn trong việc bảo đảm độ cứng không gian cho nhà. Sàn tựa lên tường hay cột. Nó gồm có các dầm chính, dầm phụ và bản, hay các tấm sàn lắp ghép gọi là panen. Đó là các bộ phận chịu lực, trên bộ phận này còn có mặt sàn, tức lớp áp sàn được cấu tao theo yêu cầu sử dụng.
13. Mái che : Là bộ phận cấu tạo bên trên cùng của nhà, làm nhiệm vụ bao che cho nhà khỏi bị ảnh hưởng của mưa, nắng và khí quyển nói chung. Mái cũng như sàn gồm hai bộ phận chính : Các cấu tạo chịu lực như vì kèo, dầm, sàn, vỏ, vv... và các bộ phận lợp. Phần lợp có giá đỡ như cầu phong, lito trong mái ngói và các vật liệu không thấm nước như ngói, tấm fibro xi măng, tôn lượn sóng, giấy dầu, bê tông chống thấm ... Mái có độ dốc để thoát nước cho nhanh, khi độ dốc i < 5% ta có mái bằng và khi độ dốc i > 5% ta có mái dốc. Mái còn có máng nước hoặc seno để hứng nước mưa và dẫn đến các ống máng.
14. Cầu thang Là những mặt sàn hay lối đi nghiêng có bậc hay không bậc dùng làm phương tiện liên hệ giữa các tầng. Cầu thang phải có lan can để bảo đảm an toàn khi sử dụng. Thang có thể đặt trong một buồng kín gọi là lồng thang, cũng có thể được đặt lộ trong các tiền sảnh nhà công cộng. Thang gồm có thân thang nghiêng trên có bậc và các chiếu nghỉ. Thang gồm có thân thang nghiêng trên có bậc và các chiếu nghỉ. Thang có thể chỉ có một vế hay có thể có nhiều vế.
15. Cửa sổ : Là bộ phận lấy ánh sáng và thông gió cho phòng. Ở nước ta cửa sổ thường có hai lớp : Cửa chớp bên ngoài để che nắng, thông gió, cửa kính bên trong để chống mưa, ngăn gió lạnh, lấy ánh sáng. Cửa sổ các nước sứ lạnh thường có hai lớp cửa kính và không có cửa chớp. Cửa sổ gồm có khuôn cửa và cánh cửa, cũng có trường hợp không có khuôn. Cửa sổ đặt trên tường và vách, cách mặt sàn 80-90 cm và thường cách trần 30-40 cm.
16. Cửa đi : Là bộ phận để liên hệ giữa các phòng, giữa không gian bên trong và ngoài nhà. Cửa đi cũng gồm có khuôn hoặc không có khuôn và cánh. Cửa đi thường không thấp hơn 1,8m, có thể có phần hãm bên trên hay không có. Cửa có thể làm bằng gỗ, kim loại hay hỗn hợp gỗ kính, kim loại kính. Kích thước to nhỏ do yêu cầu đi lại quyết định.
Hình 1.1. Các bộ phận cấu tạo nhà
1. Cọc; 2. Móng ; 3. Tường ; 4. Nền nhà; 5. Cửa sổ; 6. Cửa đi; 7. Lanh tô; 8. Giằng tường; 9. Sàn gác; 10. Cầu thang ; 11. Mái ; 12. Vỉa hè; 13. Rãnh nước; 14. Bậc thềm; 15. Ban công; 16. Lô gia; 17. Mái hắt; 18. Máng nước; 19 ống thoát nước.